Thằng bạn tôi xăm quỷ trả thù cho bồ

Chương 16 Xin phép thổ địa

2.415 chữ · khoảng 12 phút đọc · Nguyễn Mỹ Hạnh

Ở quê tôi, người ta vẫn bảo đi đâu cũng phải biết đất ấy có chủ, mỗi vùng đều có thổ địa riêng cai quản. Người sống bình thường đi qua thì chẳng nói làm gì nhưng nếu muốn vào những nơi âm u, làm những chuyện liên quan đến người chết hay âm phần thì phải xin phép trước. Người già bảo làm vậy không phải để cầu may mà là để chuyến đi được thuận lợi, bình an, tránh đụng chạm đến những thứ mình không nên đụng vào. Hồi nhỏ tôi nghe những chuyện ấy chỉ nghĩ người lớn mê tín, lớn lên mới hiểu có những chuyện có thờ có thiêng có kiêng có lành.

Tôi ngồi ở tiệm ông Cẩn thêm chừng nửa tiếng mà trong người cứ bứt rứt không yên. Cuối cùng tôi phải chạy ra đầu ngõ làm điếu thuốc cho đỡ ngột ngạt. Cái lạnh ngoài phố khiến đầu óc tôi tỉnh táo hơn không ít, có lẽ vì bên trong ngồi lâu quá, cái mùi mực xăm, mùi cồn với thứ mùi ngai ngái từ mấy món đồ cũ cứ quẩn quanh khiến tôi thấy khó thở. Tôi dựa vào bức tường đầu ngõ, châm thuốc rồi đứng nhìn xe cộ chạy qua ngoài phố. Tiếng còi xe, tiếng người gọi nhau từ mấy hàng quán vọng vào nghe chẳng có gì đặc biệt, vậy mà lúc ấy tôi lại thấy dễ chịu hơn hẳn. Mấy ngày qua có quá nhiều việc ập tới khiến tôi không có thời gian để thở, giờ nghĩ lại không biết đâu là thực đâu ra mơ nữa.

Tôi vừa hút được vài hơi thì nghe tiếng dép phía sau lưng. Nam cũng đi ra, nó đứng cạnh tôi, hai tay đút túi quần, mắt nó đăm chiêu nhìn ra ngoài đường. Hai đứa chẳng ai nói gì. Một lúc sau, tôi mới lên tiếng trước, tôi hỏi nó:

– Mày thấy sao về chuyện bác Cẩn vừa nói?

Nam im lặng một lúc mới đáp:

– Chuyện nào?

– Thì chuyện cái Hương có liên quan đến con ngải ấy.

Nam không trả lời ngay, nó cúi xuống đá nhẹ một viên sỏi dưới chân, để nó lăn vào mép tường rồi mới đáp lời tôi:

– Tao không biết.

Tôi nhìn sang nó:

– Tao cũng thấy khó tin.

Nam khẽ gật đầu.

– Ừ.

Nó im thêm một lúc rồi nói:

– Nhưng cái kẹp đúng là của Hương, con ngải kia lại nhận ra máu của cô ấy.

Tôi đưa điếu thuốc lên hút một hơi thật sâu, lần này chẳng thấy vị thuốc đâu nữa, chỉ thấy càng lúc càng rối.

– Thế tao mới thấy khó hiểu.

Nam không nói gì. Ngoài đầu ngõ, một chiếc xe máy phóng qua, tiếng động cơ rú lên rồi nhanh chóng khuất dần. Nam đứng yên thêm một lúc, bỗng quay sang hỏi tôi:

– Bách.

– Gì?

– Mày còn nhớ ông lão ở cái miếu hôm nay nói gì không?

Tôi nghĩ lại một lúc rồi đáp lại:

– Ông ấy bảo đừng mang đồ trong miếu về nhà.

Nam lắc đầu.

– Không phải câu đó.

– Thế câu nào?

Nó nhìn tôi, giọng chậm hẳn xuống:

– Trước câu ấy cơ.

Tôi đứng im một lúc, cố nhớ lại chuyện hồi sáng. Khi đó tôi cứ nghĩ ông chỉ thấy một món đồ của người chết nhưng giờ nghĩ lại, ánh mắt ấy có gì đó rất lạ.

– Ừ, hình như ông ấy có nói một câu trước đó. Ông ấy bảo đồ của người chết thì để lại cho người chết?

Nam gật đầu.

– Ừ.

Nó quay sang nhìn tôi.

– Nhưng mày nhớ lúc ấy ông ta nhìn cái kẹp thế nào không?

Tôi không trả lời. Thật ra tôi nhớ, không phải kiểu nhìn thấy một món đồ bình thường mà giống như ông ta đã biết chiếc kẹp ấy từ trước.

– Mày nghĩ ông ấy biết Hương à?

– Tao không biết.

Nam nói xong thì quay người đi vào trong. Tôi chờ cho bay mùi thuốc rồi chạy vào theo nó. Ông Cẩn đang lúi húi chuẩn bị đồ ở phía nhà trong. Tôi không nhìn rõ ông lấy những gì, chỉ nghe tiếng vài món đồ va vào nhau lạch cạch. Một lúc sau ông quay ra, đặt lên bàn một chiếc túi vải cũ cùng mấy món đồ được bọc kín, ông quay đầu nhìn hai chúng tôi một lượt rồi mới lên tiếng:

– Đi được rồi hai đứa.

Nam nhìn đồng hồ.

– Còn chưa tới ba giờ nữa bác.

– Đi sớm còn hơn đi muộn.

Nói rồi ông cầm chiếc túi vải lên, kiểm tra lại dây buộc một lần nữa rồi mới khoác lên vai. Ông nhìn đồng hồ lần nữa, không nói gì thêm mà đi thẳng ra phía cửa. Nam đứng dậy, cầm chìa khóa rồi dắt xe ra ngoài. Chúng tôi đi hai xe, ông Cẩn đi trước dẫn đường còn Nam chở tôi chạy phía sau. Rời khỏi con ngõ, Hà Nội vẫn đông đúc như mọi ngày, từng đoàn xe máy chen nhau ngoài phố, thỉnh thoảng lại có tiếng xe đạp leng keng bên đường. Ông Cẩn chạy phía trước, đi không nhanh nhưng rất chắc tay, thỉnh thoảng ông lại ngoái đầu nhìn xem hai đứa có theo kịp không.

Ra khỏi nội thành, đến đoạn đường vắng hơn, Nam mới chạy sát lên rồi gọi với sang ông Cẩn:

– Bác.

Ông Cẩn quay đầu sang:

– Gì?

– Chợ Âm Phủ là chợ gì mà lại mở buổi tối vậy bác?

Ông Cẩn không trả lời ngay, ông nhìn thẳng con đường phía trước, một lúc sau mới nói:

– Chợ bình thường thì bán đồ ăn, đồ dùng cho người sống. Chợ này bán những thứ khác thôi.

Nam nhíu mày:

– Thứ khác là sao hả bác?

Ông Cẩn giảm ga một chút để hai xe đi ngang nhau.

– Cậu cứ biết là một phiên chợ họp ban đêm thôi, bán mấy thứ bình thường không có ngoài chợ.

Tôi ngồi phía sau nghe vậy thì bật cười:

– Bác nói thế càng làm bọn cháu tò mò.

Ông Cẩn liếc tôi qua vai.

– Tò mò thì tò mò, lát nữa đừng có tự ý hỏi giá hay động chạm lung tung.

– Sao thế bác?

– Người ta không thích đâu. Không phải các cậu cứ có tiền là người ta bán, có thứ phải đúng người, đủ duyên người ta mới bán.

Nói xong ông lại tăng ga. Tôi nhìn Nam, nó cũng đang định hỏi thêm nhưng thấy ông Cẩn không có vẻ gì muốn nói tiếp nên đành thôi. Hai bên đường bắt đầu thưa nhà, thi thoảng mới có một quán nước hoặc vài căn nhà nằm sát mặt đường. Trời vẫn chưa tối nhưng cái lạnh đã bắt đầu buốt hơn, tôi kéo cao cổ áo rồi ngồi sát vào Nam hơn một chút cho đỡ lạnh. Đi được chừng nửa tiếng nữa ông Cẩn bất ngờ tấp xe vào một quán nước nhỏ bên đường, Nam cũng phanh lại theo. Ông Cẩn dựng xe rồi quay ra nhìn hai đứa:

– Nghỉ một chút.

Nam nhìn đồng hồ hỏi:

– Mình còn bao lâu nữa tới nơi hả bác?

– Khoảng bốn lăm phút nữa thôi.

Quán nước nằm nép bên đường, phía trên căng một tấm bạt cũ che nắng che gió. Bên trong là mấy chiếc ghế nhựa thấp đặt quanh chiếc bàn nhỏ, có vài người đàn ông đang ngồi uống nước, vừa hút thuốc lào vừa nói chuyện mùa màng, giá thóc năm nay. Tiếng nói chuyện lúc to lúc nhỏ, thỉnh thoảng xen vào một tiếng ho khan sau điếu thuốc lào. Bà chủ quán đang rót trà, hơi nóng từ ấm nước bốc lên mang theo mùi chè khô ngai ngái.

– Trước khi đi tiếp phải làm một việc.

Ông Cẩn gọi một ấm trà nóng rồi mới quay sang nói với tôi và Nam. Đợi bà chủ quán mang trà ra, ông mới mở chiếc túi vải vẫn đeo bên người từ lúc rời Hà Nội. Tôi cứ nghĩ ông lấy đồ uống hoặc mấy thứ chuẩn bị cho chuyến đi nhưng không phải, ông lấy ra một chiếc đĩa sứ nhỏ màu trắng đã ngả vàng, đặt ngay ngắn giữa mặt bàn. Sau đó ông lấy một đồng xu cũ, đặt vào lòng đĩa. Nam ngồi đối diện nhìn một lúc rồi hỏi:

– Bác làm gì vậy?

Ông Cẩn rót trà, giọng bình thản:

– Xin phép.

– Xin ai?

Ông Cẩn ngẩng lên nhìn nó.

– Thổ địa ở đây.

Nam ngẩn người, tôi cũng tò mò hỏi:

– Phải tới tận Bắc Ninh mới xin hả bác?

– Ừ.

Ông Cẩn gật đầu.

– Mỗi vùng đều có thổ địa cai quản riêng, mình tới đây làm việc thì phải xin phép các ngài trước.

Nói xong ông lấy trong túi ra một nén nhang. Quán nước không có bàn thờ, ông cũng chẳng đốt ngay tại chỗ. Ông đứng dậy đi ra phía sau quán, tìm một khoảng đất sạch bên gốc cây rồi cắm nén nhang xuống. Ông Cẩn ngồi xuống trước chiếc đĩa, hai tay đặt lên đầu gối. Ông nhìn nén nhang đang cháy một lúc rồi mới cầm đồng xu lên. Tôi với Nam theo sau cũng tự biết im lặng. Lúc ấy xung quanh vẫn có tiếng xe chạy ngoài đường, tiếng người nói chuyện từ quán nước vọng lại nhưng chẳng hiểu sao tôi lại có cảm giác mọi âm thanh đều nhỏ đi, chỉ còn tiếng khói nhang cháy kêu lách tách trước mặt.

Ông Cẩn chắp tay, khấn rất chậm:

– Hôm nay tôi có việc phải vào chợ Âm Phủ, có hai người đi cùng. Chúng tôi đi qua đây có việc, xin phép các ngài cho qua. Nếu không thuận xin cho biết để chúng tôi quay về.

Khấn xong, ông cúi đầu ba lần. Sau đó ông ngồi xuống, dùng hai ngón tay nhấc đồng xu lên rồi đặt vào chính giữa chiếc đĩa. Ông buông tay, đồng xu lật một vòng rồi nằm im. Ông Cẩn cúi xuống nhìn, tôi cũng tò mò ghé mắt sang. Mặt đồng xu đang úp xuống. Ông Cẩn không nói gì, chỉ đưa tay nhặt nó lên. Nam hỏi:

– Không được hả bác?

Ông Cẩn lắc đầu.

– Chưa được.

Tôi nhìn ông hỏi:

– Mặt sấp là không cho đi ạ?

– Ừ.

Ông trả lời rất tự nhiên.

– Mặt ngửa mới là cho.

Nói xong ông lấy thêm một nén nhang cắm xuống trước chiếc đĩa. Lần này ông khấn lâu hơn lần trước, tôi không nghe rõ hết từng câu nhưng vẫn loáng thoáng thấy ông nhắc đến thổ địa nơi này, xin phép được đi vào chợ Âm Phủ, đồng thời xin cho chuyến đi được bình an. Khấn xong, ông lại cúi đầu ba lần. Tôi nhìn nén nhang trước mặt, khói bay lên thành một vệt mỏng rồi bị gió cuốn lệch sang bên. Ông Cẩn cầm đồng xu lên lần nữa. Nam ngồi sát bên tôi, không nói gì nhưng tôi thấy nó cứ nhìn chằm chằm vào bàn tay ông Cẩn. Đồng xu được đặt xuống giữa chiếc đĩa, lần này nó rơi xuống nhanh hơn. Tôi cúi nhìn, vẫn là mặt sấp. Ông Cẩn nhìn đồng xu vài giây rồi thở ra một hơi rất nhẹ.

– Vẫn chưa được.

– Hai lần rồi mà vẫn không cho đi?

– Ừ.

– Vậy có đi nữa không bác?

Ông Cẩn không trả lời ngay. Ông nhấc đồng xu lên, đặt vào lòng bàn tay rồi nhìn nén nhang đang cháy. Một lúc sau ông mới nói:

– Xin lần thứ ba.

Tôi nghe vậy bất giác thấy hơi lạnh sống lưng. Lần này ông đứng thẳng trước chiếc đĩa, hai tay chắp lại, giọng ông thấp nhưng rõ ràng hơn:

– Hôm nay tôi đưa hai người đi qua đất này, có việc cần vào chợ Âm Phủ. Hai lần trước đã xin phép nhưng chưa được thuận nay xin các ngài xem xét lần cuối. Nếu cho chúng tôi đi, xin mở đường cho chuyến đi được bình an. Nếu không cho, xin cho biết để chúng tôi quay về, tuyệt đối không dám làm phiền.

Khấn xong, ông cúi đầu ba lần rồi ngồi xuống. Ông đặt đồng xu vào giữa chiếc đĩa nhưng lần này không buông ngay. Hai ngón tay ông giữ đồng xu thêm vài giây, rồi mới từ từ thả ra.

“Keng…”

Đồng xu rơi xuống. Nó lật qua một bên, xoay một vòng nhỏ rồi mới nằm im. Tôi nín thở nhìn, cuối cùng cũng ra mặt ngửa. Ông Cẩn nhìn đồng xu rất lâu, sau đó ông mới gật đầu.

– Đi được rồi.

Nam thở phào, cả nguời như vừa được trút bớt một gánh nặng.

– Vậy là được đi rồi hả bác?

– Ừ.

Ông Cẩn nhặt đồng xu lên, dùng ngón tay lau nhẹ mặt đồng tiền rồi cất vào túi.

– Lần thứ ba mới được.

Tôi nhìn chiếc đĩa dưới đất, trong lòng vẫn còn cảm giác khó tả.

– Nếu lần thứ ba vẫn mặt sấp thì sao bác?

Ông Cẩn đứng dậy, phủi nhẹ bụi trên tay.

– Thì quay về.

– Không cố đi được ạ?

Ông nhìn tôi như thể câu hỏi ấy rất bình thường.

– Chưa nghe câu quá tam ba bận à? Đã xin mà người ta không cho, đi cũng chỉ chuốc hoạ vào thân thôi!

Ông cúi xuống nhấc chiếc đĩa lên, đổ chút tro nhang còn sót lại rồi lau sạch trước khi cất vào túi. Tôi nhìn theo động tác của ông, tự nhiên không còn thấy cái tên chợ Âm Phủ buồn cười như lúc còn ở Hà Nội nữa. Ông Cẩn vừa quay lưng đi được vài bước thì tôi chợt thấy nén nhang ông cắm lúc nãy vốn đứng thẳng, khói bay lên đều đều, vậy mà lúc này thân nhang bỗng nghiêng hẳn sang một bên. Tôi đứng lại, nhìn quanh một lượt nhưng chẳng thấy gió đâu. Tôi đang định gọi ông Cẩn lại thì Nam bỗng kéo nhẹ tay áo tôi.

– Đi thôi.

Tôi quay sang nhìn nó.

– Mày nhìn kìa!

Nam nhìn về phía nén nhang theo lời tôi nói, nó im lặng kéo tôi đi theo ông Cẩn. Tôi cũng không hỏi nữa nhưng từ lúc ấy trong lòng cứ thấy có gì đó không yên.

Chương 16 có nhà tài trợ

Mở khóa để đọc tiếp

Emma kể chuyện miễn phí nhờ nhà tài trợ. Bạn chọn một cách bên dưới để mở khóa chương này nhé.

Mở khóa có hiệu lực 24 giờ trên thiết bị này.

Video nhà tài trợ

Có thể bạn thích

Gợi ý cho bạn đọc

Một số liên kết là tiếp thị liên kết. Emma kể chuyện có thể nhận hoa hồng khi bạn mua hàng, giá không thay đổi.