Chương 13 Thứ mang ra từ trong miếu
Hồi nhỏ, ông nội tôi từng dặn, ở quê có những ngôi miếu chẳng ai biết thờ ai thì tốt nhất đừng tò mò. Ông bảo nếu có vô tình nhặt được thứ gì trong miếu thì cũng đừng mang về nhà, bởi có những thứ tưởng chỉ là một món đồ bình thường nhưng một khi đã theo chân người sống bước qua khỏi cửa miếu thì chẳng biết thứ gì khác sẽ theo nó về cùng. Khi ấy tôi chẳng tin, còn nghĩ ông chỉ dọa trẻ con. Mãi nhiều năm sau nhớ lại tôi mới hiểu có những lời người già nói ra không phải tự nhiên mà có.Mưa vẫn chưa ngớt, tiếng mưa gõ lộp bộp trên mái ngói cũ, chỗ nào ngói nứt thì nước lại nhỏ tong tỏng xuống nền. Gió cứ từng cơn lùa qua cửa miếu, mang theo hơi lạnh và mùi đất ướt từ ngoài đồng vào khiến tôi hắt hơi một cái. Tôi khẽ rùng mình, kéo sát hai vạt áo khoác vào người. Trong khi đó, ông lão vẫn lặng lẽ quét lá, vẻ mặt bình thản như đã quá quen với cái lạnh ấy từ lâu. Nam vẫn đứng yên tại chỗ, bàn tay nó nắm chặt chiếc kẹp tóc đến mức những khớp ngón tay trắng bệch. Đợi ông lão khấn xong, nó mới cất tiếng:
– Ông này.
Ông lão quay đầu.
– Gì thế cậu?
Nam mở lòng bàn tay ra, chiếc kẹp tóc hình con bướm nằm gọn giữa lòng bàn tay, cánh bướm sứt mất một góc. Nó giơ ra trước mặt ông lão, cắn răng hỏi:
– Ông có biết cái này của ai không?
Ánh mắt ông lão vừa chạm vào chiếc kẹp thì khựng lại rất khẽ. Chỉ một thoáng rất nhanh thôi, nếu không đứng đối diện quan sát từ đầu, có lẽ tôi cũng chẳng nhận ra. Sau đó ông lại cúi xuống phủi mấy chiếc lá ướt bám trên mép ban thờ, giọng đều đều nói:
– Kẹp tóc thôi mà, ngoài tiệm thiếu gì.
Nam bước thêm một bước, không cam lòng nói:
– Nhưng bọn cháu vừa nhặt được nó ở phía sau ban thờ.
Lần này ông lão không trả lời ngay, chiếc chổi tre trên tay ông vẫn quét đều từng nhịp. Âm thanh ấy hòa cùng tiếng mưa ngoài hiên khiến cả gian miếu càng thêm tĩnh lặng. Một lúc sau ông mới từ từ nói:
– Người đi đồng tránh mưa, trẻ con chăn trâu nghịch ngợm, khách qua đường ghé nghỉ chân, rơi cái kẹp cũng có gì lạ đâu.
Tôi khẽ liếc sang Nam, nhìn vẻ mặt nó, tôi biết nó không tin mà thật ra chính tôi cũng vậy. Chiếc kẹp tóc của Hương lại xuất hiện đúng trong ngôi miếu này, ngay sau ban thờ, đúng chỗ hàng dấu chân kỳ lạ biến mất. Trên đời làm gì có chuyện trùng hợp đến thế.
Nam hít sâu một hơi, nó vẫn cố hỏi thêm:
– Ông có từng gặp một cô gái tên Hương đến đây chưa?
Chiếc chổi trên tay ông lão bỗng dừng lại, chỉ chừng một nhịp rồi ông lại tiếp tục quét như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
– Hương nào?
– Hương cháu bác Chiến ở thôn đó bác, em ấy mới mất tuần trước.
Ông lão lắc đầu.
– Tôi già rồi, trí nhớ kém lắm. Mỗi ngày bao nhiêu người qua lại, làm sao nhớ hết được.
Câu trả lời nghe rất bình thường, bình thường đến mức chẳng tìm được lấy một kẽ hở. Thế nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy có gì đó không đúng. Ông không hề hỏi Hương là ai, cũng chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên khi nghe chúng tôi nhắc đến một người vừa mất, cứ như thể ông đã biết trước cái tên ấy rồi. Tôi còn đang suy nghĩ thì Nam lại hỏi:
– Bác nhớ kỹ lại giúp cháu, gần đây có cô gái trẻ nào từng tới ngôi miếu này không?
Ông lão chống cán chổi xuống nền, ngẩng đầu nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài cửa.
– Miếu mở cửa quanh năm, ai thích vào thì vào, tôi ngồi đây suốt ngày đâu mà nhớ từng người.
Nói xong, ông cúi xuống tiếp tục quét lá giống như ông không muốn nhắc đến chuyện này nữa. Nhưng chính sự bình thản ấy lại khiến trong lòng tôi nổi lên một cảm giác khó tả. Tôi đứng cạnh Nam, nhìn ông lão lom khom quét từng chiếc lá ướt bị gió hất vào trong miếu. Ông quét rất chậm, từ đầu đến cuối vẫn không ngẩng mặt lên.
Không hiểu sao tôi lại thấy ngôi miếu này có gì đó rất lạ. Trước cửa miếu đặt một bát hương nhỏ, bên trong ban thờ lại có thêm một bát hương khác. Tôi không am hiểu chuyện hương khói nhưng cũng từng đi không ít đình đền miếu chùa, chưa bao giờ thấy một ngôi miếu bé xíu giữa đồng lại bày hai bát hương như thế. Cứ như đang thờ hai người mà cách bày trí thì lại chẳng giống bất kỳ nơi nào tôi từng thấy.
Tôi đánh bạo hỏi:
– Ông ơi, miếu này thờ ai thế?
Chiếc chổi trên tay ông lão khựng lại, một lúc sau ông mới đáp:
– Không biết.
Tôi ngẩn người.
– Ông trông miếu mà lại không biết?
Ông lão đưa mắt nhìn lên tấm hoành cũ kỹ trên vách, lắc đầu đáp:
– Tôi chỉ là người thay hương, quét lá thôi. Từ hồi còn bé tý cái miếu này đã ở đây rồi. Người già trong làng chỉ bảo cứ đến ngày rằm, mùng một thì thắp nén hương, đừng để bát hương lạnh. Còn hỏi thờ ai thì chẳng ai biết được.
Nam cau mày.
– Thế ông không tò mò mình quét tước trông nom thờ cúng ai à?
Ông lão khẽ lắc đầu.
– Có những chuyện biết ít thì sống lâu hơn.
Nói xong, ông lại cặm cụi quét lá. Tôi với Nam nhìn nhau, câu nói ấy giống như đang nhắc nhở chúng tôi vậy. Ngoài trời, mưa đã bắt đầu nhỏ hạt hơn, gió cũng dịu đi, chỉ còn tiếng nước từ mái ngói nhỏ tong tỏng xuống nền gạch. Đúng lúc ấy một âm thanh rất nhỏ vang lên ngay dưới chân tôi, tôi giật mình cúi xuống. Là viên gạch lúc nãy Nam vừa gõ. Không biết vì lý do gì mà viên gạch ấy bỗng lún xuống thấp hơn những viên còn lại một chút, chừng nửa đốt ngón tay. Nam cũng nhìn thấy, nó theo phản xạ định bước tới để nhìn kỹ hơn.
– Đừng!
Tiếng quát của ông lão vang lên khiến cả tôi lẫn Nam đều giật bắn mình. Đó là lần đầu tiên từ lúc gặp giọng ông trở nên gay gắt đến vậy. Ông chống mạnh cán chổi xuống nền, đôi mắt già nua nhìn chằm chằm vào viên gạch vừa lún.
– Tôi đã bảo đừng động vào chỗ ấy.
Không gian trong ngôi miếu bỗng im phăng phắc. Một lúc lâu sau ông lão mới thở phào, giọng dịu xuống như vừa nhận ra mình hơi mất bình tĩnh.
– Nền cũ lắm rồi, cạy lên là sập cả ban thờ đấy!
Nói thì nói vậy nhưng tôi để ý thấy ánh mắt ông từ đầu đến cuối không hề nhìn ban thờ, ông chỉ nhìn đúng vào khe hở vừa lộ ra dưới viên gạch. Giống như điều ông sợ không phải là ban thờ bị sập mà là có thứ gì đó dưới nền miếu sẽ bị chúng tôi nhìn thấy. Ông lão nhìn tôi với Nam hồi lâu rồi chậm rãi cúi xuống, dùng mũi chiếc chổi tre gạt mấy chiếc lá mục che kín khe hở giữa các viên gạch.
– Hai cậu còn trẻ, tò mò cũng phải thôi.
Ông vừa nói vừa lấy chân đạp nhẹ lên viên gạch vừa lún, viên gạch khẽ dịch xuống rồi nằm im như cũ, khe hở cũng bị che khuất.
– Đôi khi biết ít lại tốt.
Nam vẫn chưa chịu thôi, nó chỉ xuống bát hương đặt ngoài cửa miếu.
– Thế còn cái bát hương kia thì sao? Sao lại đặt tận ngoài cửa?
Ông lão ngập ngừng một lát rồi mới đáp:
– Cái ấy không phải để thờ.
Tôi với Nam gần như cùng lúc nhìn nhau, không phải để thờ vậy bát hương đặt ở đó để làm gì? Ông lão chống cán chổi xuống nền rồi bước ra cửa miếu. Ông cúi xuống phủi nước mưa còn đọng trên thành bát hương rồi cắm lại cây nhang vừa bị gió làm nghiêng.
– Từ lâu nay người làng đi ngang qua, nhất là lúc chiều tối hay hôm mưa gió thì cứ cắm một nén hương ở bát ngoài cửa rồi mới đi tiếp.
Nam hỏi ngay:
– Để cầu bình an à ông?
Ông lão khẽ cười xòa.
– Muốn hiểu thế cũng được.
Nói đến đó ông lại im lặng, tôi chờ mãi chẳng thấy ông nói tiếp, đành hỏi:
– Thế còn bát hương trong kia?
Ông lão đưa mắt nhìn vào ban thờ, đáp:
– Cái trong ấy mới là bát hương của miếu.
Ông lão nhìn bát hương ngoài cửa rồi chậm rãi nói:
– Bát hương trong kia là để thờ còn bát hương ngoài cửa là để cúng khách.
Tôi ngơ ngác:
– Khách nào cơ?
Ông lão chỉ cười nhạt.
– Những vị khách vãng lai đi ngang qua mà không tiện bước vào trong.
Ông lão nói xong thì im lặng. Ngoài trời mưa cũng vừa lúc ngớt, nước mưa còn đọng trên những cành gạo già thi nhau nhỏ xuống nền đất, từng giọt rơi lộp bộp giữa khoảng không vắng lặng. Cây gạo đứng sừng sững trước cửa miếu, thân cây đen sì sau cơn mưa, những cành khẳng khiu vươn ra tứ phía trông chẳng khác gì những cánh tay gầy guộc đang dang ra che lấy cả ngôi miếu.
Nam nhìn bát hương ngoài cửa rồi lại nhìn sang chiếc kẹp tóc trong tay, mím môi hỏi:
– Ý ông là bát hương ấy để cúng ma đói à?
Ông lão không đáp, ông chỉ lặng lẽ phủi mấy hạt tro trên thành bát hương rồi quay người bước vào trong miếu. Một lúc sau ông mới cất giọng từ trong vọng ra:
– Người dương có đường người dương, người âm có đường người âm. Ai ở yên phận nấy thì chẳng có chuyện gì đâu.
Nói đến đây, ông bỗng quay đầu nhìn thẳng vào bàn tay Nam, ánh mắt ông dừng lại đúng trên chiếc kẹp tóc, giọng lạnh hẳn đi:
– Có điều đồ của người chết thì đừng mang về.
Nam siết chặt chiếc kẹp hơn.
– Đây không phải đồ của người chết, đây là đồ của Hương.
Ông lão nhìn Nam rất lâu, đôi mắt già nua ấy bỗng hiện lên một vẻ thương hại rất khó tả, ông khẽ lắc đầu.
– Cậu còn trẻ, sau này rồi sẽ hiểu.
Không khí trong ngôi miếu lại rơi vào im lặng. Đúng lúc ấy, cơn mưa ngoài đồng cũng tạnh hẳn. Một vạt nắng nhợt nhạt xuyên qua tầng mây, hắt xuống cửa miếu, ngay trước mũi chân tôi. Nam nhét chiếc kẹp tóc vào túi áo khoác, nó quay sang nhìn tôi, nói:
– Đi thôi.
Tôi gật đầu, Hai đứa dắt xe ra khỏi ngôi miếu. Bầu trời lúc này đã sáng hơn đôi chút. Cơn mưa vừa rồi giống như trút hết nước xuống cánh đồng, để lại khắp nơi một màu ẩm ướt. Nước mưa từ những cành gạo già vẫn nhỏ lộp bộp xuống nền đất, gió cũng đã dịu đi nhiều.
Tôi ngoái đầu nhìn lại ngôi miếu lần cuối. Ông lão vẫn cặm cụi quét lá trước cửa như thể từ nãy đến giờ chưa từng có cuộc nói chuyện nào xảy ra.
Chiếc Dream lại nổ máy. Con đường đất dẫn về phía nghĩa địa sau trận mưa trở nên lầy lội hơn hẳn. Bánh xe nhiều lúc lún sâu xuống bùn, Nam phải ghì chặt tay lái mới giữ được thăng bằng. Cả quãng đường chẳng đứa nào nói với đứa nào câu nào. Chẳng mấy chốc nghĩa địa đã hiện ra trước mắt chúng tôi, nó nằm chơ vơ giữa cánh đồng, chẳng có lấy một bức tường ngăn cách với bên ngoài. Chỉ một lối đất nhỏ ngoằn ngoèo dẫn vào giữa những ngôi mộ nằm san sát. Xa hơn một chút là mấy cây bạch đàn già đứng im phăng phắc, cả khu nghĩa địa chìm trong một màu xám lạnh, vắng đến mức chỉ nghe tiếng gió lùa qua đám cỏ dại.
Ngay lúc này chiếc điện thoại Nokia trong túi áo nó bỗng rung lên từng hồi. Nó nhìn dãy số hiện trên màn hình, khẽ nhíu mày.
– Số lạ.
– Nghe thử đi mày.
Nam bấm nút nghe, đầu dây bên kia im lặng vài giây rồi mới vang lên giọng một người đàn ông.
– Cậu Nam đấy à?
– Vâng, ai đấy ạ?
– Tôi Cẩn đây.
Nam khựng hẳn lại, mắt nó hiện lên vẻ kinh ngạc, lắp bắp hỏi lại:
– Bác, bác Cẩn?
Tôi đứng cạnh chỉ nghe loáng thoáng vài câu, thấy Nam bỗng gọi một tiếng "bác Cẩn" tôi cũng hơi ngạc nhiên. Hôm trước chính ông Cẩn đã hẹn ba ngày sau mới gặp lại Nam, vậy mà giờ còn chưa hết thời hạn ông đã chủ động gọi tới. Đầu dây bên kia vang lên giọng ông Cẩn nghe nặng hơn mọi khi.
– Cậu đang ở đâu?
– Cháu đang ở quê.
– Về Hà Nội ngay.
Nam cau mày.
– Nhưng bác bảo cháu còn ba ngày nữa...
Ông Cẩn lập tức cắt ngang.
– Không kịp nữa.
Vừa nói ông dừng lại một nhịp rồi hạ thấp giọng nói tiếp:
– Có thứ đã bắt đầu để ý đến cậu rồi.
Nam siết chặt chiếc điện thoại.
– Ý bác là...
– Đừng hỏi.
Lần đầu tiên tôi nghe giọng ông Cẩn gấp đến thế, ông nói một hơi thật nhanh:
– Từ giờ đến tối bằng mọi giá phải có mặt ở tiệm của tôi. Càng để lâu nó sẽ càng tìm cách cản cậu. Nếu lỡ mất đêm nay tôi cũng không giúp được nữa.
Đầu dây bên kia tắt phụt. Nam vẫn cầm điện thoại, đứng chết lặng giữa con đường đất. Tôi nhìn nó, linh cảm có chuyện chẳng lành.
– Có chuyện gì thế?
Nam đưa mắt nhìn về phía nghĩa địa phía trước, chỉ còn vài chục bước nữa là tới mộ Hương. Nó đứng im rất lâu, quai hàm nghiến chặt như đang đấu tranh với chính mình, một lúc lâu sau nó mới cắn răng nói:
– Chúng ta phải quay về Hà Nội, ngay bây giờ.

