Chương 27 Căn phòng treo biển đỏ
Người ta vẫn bảo, sống ở khu tập thể hay những dãy nhà trọ sinh viên thì chẳng có chuyện gì giấu được lâu. Chỉ cần một người đi muộn hơn mọi ngày, một chiếc xe lạ xuất hiện trước cổng hay một tiếng cãi vã lúc nửa đêm thì chẳng mấy chốc cả dãy đều biết. Thời ấy cuộc sống của bọn tôi đơn giản lắm. Ban ngày đi học, tối đi làm thêm, cuối tháng hết tiền thì ăn mì tôm cầm cự. Bởi vậy chuyện có người lạ tìm đến tận phòng trọ thường rất hiếm. Cho nên lúc có người gõ cửa phòng, phản ứng đầu tiên của tôi là nghĩ chắc mình nghe nhầm. Mở cửa ra tôi nhìn thấy một người đàn ông đứng ngoài hành lang. Hắn khoảng gần ba mươi tuổi, mặc một chiếc áo sơ mi xám, quần bò đen, trên tay vẫn còn cầm một điếu thuốc đang cháy dở. Tôi chắc chắn mình chưa từng gặp người này bao giờ.
Hắn nhìn tôi một lượt rồi hỏi:
– Cậu là Bách à?
– Vâng.
– Nhân viên mới của quán Thiên Hà đúng không?
Tôi hơi khựng lại, lúc đó tôi mới biết quán bar ấy tên là Thiên Hà, một cái tên rất đẹp nhưng lại chẳng ăn nhập gì với những gì tôi nhìn thấy bên trong. Lúc mới bước vào tôi chỉ mải nhìn đám bảo vệ xăm trổ đứng trước cửa rồi lại bị chiếc bàn thờ đỏ dưới tầng một thu hút nên chẳng để ý đến tấm biển bên ngoài. Cái tên ấy khiến tôi liên tưởng đến một nơi nào đó sang trọng, hào nhoáng nhưng sau một đêm ở đó, thứ còn đọng lại trong đầu tôi lại chẳng phải ánh đèn hay tiếng nhạc. Đó là mùi khói thuốc ám đầy trên quần áo, những cánh cửa phòng bao hiếm khi mở ra và những cuộc trò chuyện mà một thằng sinh viên như tôi vốn không nên nghe thấy. Mãi về sau tôi mới hiểu quán bar ấy không đơn thuần chỉ là nơi để uống rượu, nó giống một địa điểm để người ta gặp gỡ, trao đổi và giải quyết những chuyện không thể đưa ra ánh sáng thì đúng hơn. Thậm chí cả những thứ liên quan đến bùa ngải hay chất cấm cũng xuất hiện ở đó.
Thấy tôi khẽ gật đầu, người đàn ông đưa mắt nhìn vào trong phòng rồi mới nói tiếp:
– Tối nay đến sớm chút, mười giờ có mặt.
– Dạ?
– Chị Hà bảo thế.
Tôi hơi bất ngờ.
– Chị Hà ạ?
– Ừ.
Tôi ngẩn người, theo thống nhất với chị Hà từ trước, ca làm của tôi vốn bắt đầu từ mười hai giờ, vậy mà hôm nay chị lại bảo tôi tới sớm hai tiếng. Chưa kịp để tôi nói thêm, hắn đã quay người định đi. Tôi vội gọi lại:
– Anh ơi!
Hắn dừng bước nhưng không quay đầu.
– Có chuyện gì thế?
– Sao tự nhiên lại phải đến sớm ạ?
Người đàn ông im lặng vài giây rồi mới trả lời:
– Tôi chỉ có nhiệm vụ chuyển lời, cậu cứ đến đúng giờ là được. Chị Hà không bạc đãi đàn em đâu.
Nói xong, hắn bước thẳng xuống cầu thang. Tôi đứng chết trân trước cửa, mãi đến khi tiếng bước chân biến mất tôi mới sực tỉnh. Không hiểu sao tôi luôn có cảm giác người đàn ông ấy không đơn giản chỉ là một nhân viên bình thường. Từ cách nói chuyện cho đến ánh mắt của hắn đều khiến tôi cảm thấy rất khó chịu. Tôi bước ra ngoài hành lang, dưới sân chiếc Nouvo màu đen của hắn đã nổ máy từ lúc nào. Tiếng pô xe vang lên giữa con ngõ nhỏ nghe chói tai đến lạ, chỉ vài giây sau chiếc xe đã rẽ ra đầu ngõ rồi mất hút.
Tôi quay trở lại phòng, bát mì trên bàn đã nguội ngắt. Tôi kéo chiếc ghế nhựa ngồi xuống, đầu óc lại bắt đầu rối như tơ vò. Chị Hà bảo tôi đến sớm để làm gì? Tôi mới chỉ làm đúng một buổi, thậm chí còn chưa quen hết công việc. Nếu chỉ là một nhân viên phục vụ bình thường thì đâu cần phải nhắn người đến tận phòng trọ để gọi đi làm sớm như thế? Càng nghĩ, tôi càng thấy khó hiểu. Không hiểu vì sao nhưng tôi cứ có cảm giác như từ lúc bước chân vào quán bar ấy mọi chuyện xung quanh tôi bắt đầu thay đổi.
Chiều hôm ấy tôi vẫn lên trường như bình thường. Nói là lên trường cho có mặt vậy thôi chứ đầu óc tôi lúc ấy chẳng còn chỗ nào dành cho bài vở nữa. Suốt cả quãng đường từ phòng trọ đến giảng đường tôi chỉ nghĩ đến quán bar Thiên Hà, đến chị Hà và cả chuyện ông Hùng đột ngột qua đời.
Sinh viên thời bọn tôi khác bây giờ nhiều lắm. Sân trường khi ấy chẳng có mấy chiếc xe tay ga đắt tiền, phương tiện quen thuộc nhất vẫn là xe đạp, những chuyến xe buýt đông nghịt người hoặc là đi bộ. Trước cổng trường lúc nào cũng có vài gánh hàng rong bán bánh mì, xôi, ngô luộc. Đám sinh viên tụ tập thành từng nhóm dưới gốc cây, đứa ôm giáo trình, đứa tranh thủ chép bài, đứa ngồi tán gẫu đến sát giờ mới chịu bước vào lớp. Cuộc sống của bọn tôi khi ấy đơn giản lắm, chỉ xoay quanh việc đi học, thi cử, kiếm tiền đóng học phí. Những chuyện như xã hội đen, buôn lậu hay những cuộc giao dịch ngầm vẫn là thứ gì đó rất xa vời.
Vừa bước vào lớp, việc đầu tiên tôi làm là đảo mắt tìm Nam nhưng chỗ ngồi quen thuộc của nó vẫn trống. Tôi ngồi xuống cạnh thằng Hưng, một đứa bạn cùng lớp niên chế rồi hỏi:
– Nam chưa đến à?
Nó lắc đầu.
– Chưa thấy.
– Có xin nghỉ không?
– Không thấy bảo gì.
Đúng lúc ấy, lớp trưởng ôm xấp tài liệu từ ngoài cửa bước vào. Tôi gọi lại:
– Ê Ngọc, hôm nay Nam có xin nghỉ không?
Nó ngẩng lên suy nghĩ vài giây rồi đáp:
– Không thấy.
Tôi khẽ nhíu mày, nếu chỉ đi làm thêm thì ít nhất nó cũng phải về phòng thay quần áo rồi mới đi học chứ. Đằng này từ tối qua đến tận chiều hôm sau tôi vẫn không thấy bóng dáng nó đâu. Tiết học hôm ấy kéo dài gần hai tiếng nhưng tôi chẳng nhớ nổi thầy giảng những gì. Ngoài cửa sổ, những tán cây xà cừ già vẫn lay động theo gió, tiếng giảng bài của thầy đều đều vang vọng khắp giảng đường. Mọi thứ vẫn diễn ra như mọi ngày, chỉ có tôi là không thể tập trung nổi. Đến cuối buổi, tôi còn quay sang phòng bên cạnh nhìn thử nhưng vẫn không thấy Nam. Lúc ấy tôi bắt đầu nghĩ có khi nào nó đã đến quán bar từ sớm, nghĩ vậy nên tôi cũng không ở lại trường nữa mà bắt xe buýt trở về phòng trọ.
…
Buổi tối tôi đến quán Thiên Hà sớm đúng như chị Hà yêu cầu. Con phố đã lên đèn từ lâu, những hàng quán hai bên đường bắt đầu đông khách hơn. Tiếng còi xe, tiếng rao hàng và tiếng nhạc từ mấy quán cà phê ven đường hòa lẫn vào nhau tạo thành thứ âm thanh rất đặc trưng của Hà Nội những năm ấy. Chiếc biển hiệu màu xanh tím của quán Thiên Hà đã sáng đèn từ bao giờ. Đứng trước cửa quán, tôi bỗng có cảm giác rất kỳ lạ. Mới chỉ một ngày trước thôi nơi này vẫn còn hoàn toàn xa lạ vậy mà chẳng hiểu sao tôi lại có cảm giác như mình sắp quay trở lại một nơi mà bản thân không hề muốn đặt chân đến. Hai gã bảo vệ tối qua vẫn đứng trước cửa, một người vừa nhìn thấy tôi đã khẽ gật đầu:
– Đến sớm thế?
– Vâng.
Tôi bước qua cánh cửa, tiếng nhạc lập tức ập đến, mùi khói thuốc quen thuộc lại xộc thẳng vào mũi nhưng điều khiến tôi chú ý đầu tiên vẫn là chiếc bàn thờ màu đỏ dưới tầng một. Khói nhang vẫn nghi ngút như đêm hôm trước. Điều kỳ lạ là từ lúc bước vào đến giờ, tôi chưa từng nhìn thấy ai thắp nhang cả nhưng bát hương ấy lúc nào cũng đỏ lửa. Không biết có phải do tâm lý hay không nhưng tôi luôn cảm thấy nơi ấy có thứ gì đó rất kỳ quái. Một quán bar mở cả ngày lẫn đêm, một chiếc bàn thờ lúc nào cũng đỏ lửa. Đúng lúc ấy, một giọng nói quen thuộc vang lên phía sau:
– Đến rồi à?
Tôi quay đầu lại, chị Hà đang đứng trên cầu thang nhìn xuống. Không hiểu sao vẻ mặt của chị hôm ấy còn lạnh hơn cả tối qua.
– Đi theo chị.
Tôi vội vàng bước theo. Không biết có phải đến sớm hơn mọi ngày hay không nhưng quán bar hôm nay mang lại cho tôi một cảm giác rất khác. Tầng một vẫn chưa đông khách như tối qua, trên sân khấu chỉ có một nhóm nhân viên đang loay hoay kiểm tra hệ thống âm thanh. Quầy bar cũng chỉ lác đác vài người ngồi uống rượu. Nhưng tầng hai lại hoàn toàn trái ngược. Ngay từ chân cầu thang tôi đã nhìn thấy vài gương mặt lạ, một gã đàn ông mặc áo da đen đang đứng hút thuốc ngoài hành lang. Bên cạnh hắn là một người khác đeo kính đen, trên cổ lấp ló một hình xăm kéo dài xuống tận ngực. Hai người nói chuyện rất nhỏ, nhìn thấy tôi đi ngang qua, cả hai đều quay đầu nhìn. Không hiểu sao, tôi lại có cảm giác như họ đang đánh giá mình, tôi lập tức cúi đầu bước nhanh hơn. Đi được vài bước, chị Hà bất ngờ lên tiếng:
– Tối nay em không phải bưng rượu.
Tôi ngẩng đầu lên.
– Dạ?
– Theo chị.
Tôi càng lúc càng thấy khó hiểu. Đi hết hành lang chị dừng lại trước một căn phòng nhỏ nằm khuất ở cuối dãy. Đó là căn phòng mà tối qua tôi chưa từng nhìn thấy, cánh cửa bằng gỗ lúc nào cũng đóng kín mít. Trên tay nắm cửa còn treo một tấm biển nhỏ màu đỏ ghi dòng chữ “Người không phận sự miễn vào”.
– Vào đi.
Tôi bước vào theo chị Hà, bên trong không rộng lắm, chỉ có một bộ bàn ghế, một chiếc tủ gỗ và vài thùng rượu xếp sát tường. Nhưng điều khiến tôi chú ý nhất lại là mùi hương trong căn phòng, một mùi rất lạ, không giống nước hoa, cũng không giống khói thuốc mà giống mùi nhang hơn. Tôi vô thức đưa mắt nhìn quanh. Trên chiếc tủ gỗ ở góc phòng, có một chiếc bát sứ nhỏ, bên trong là vài que hương đã cháy hết. Không hiểu sao, hình ảnh ấy lại khiến tôi liên tưởng đến căn phòng của ông Hùng theo lời kể của bác chủ trọ. Bác cũng nói rằng lúc người ta phát hiện thi thể ông ấy, trong phòng vẫn còn phảng phất mùi nhang.
– Ngồi xuống đi.
Giọng chị Hà kéo tôi trở về thực tại. Tôi kéo ghế ngồi xuống, ngoài hành lang tiếng bước chân mỗi lúc một nhiều hơn. Có vẻ khách bắt đầu đông nhưng kỳ lạ là chị Hà vẫn chưa hề nhắc gì đến công việc. Chị chỉ đứng dựa vào mép bàn khoanh tay nhìn tôi. Một lúc lâu sau, chị mới lên tiếng:
– Bách này.
– Dạ?
– Chị hỏi thật.
– Vâng.
– Em có sợ không?
Tôi ngẩn người.
– Sợ gì ạ?
Khóe môi chị khẽ nhếch lên một nụ cười bí hiểm.
– Sợ nơi này.
Tôi im lặng, nói không sợ thì là nói dối. Từ lúc bước chân vào quán bar Thiên Hà, tôi luôn có cảm giác như mình đang đứng ở một nơi không thuộc về mình, một nơi mà chỉ cần bước sai một bước thôi có thể sẽ không còn đường quay lại nữa. Nhưng lúc ấy tôi vẫn còn quá trẻ, đến mức ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần cẩn thận một chút thì mọi chuyện sẽ không sao. Mãi sau này tôi mới hiểu, có những chuyện không phải cứ muốn tránh là tránh được. Có những người, một khi đã vô tình bước chân vào thế giới của họ, sẽ rất khó để rút lui và đêm hôm ấy chính là khởi đầu của tất cả.






